Chấn thương vùng hàm mặt

Posted on:
tags: ,


Hàng năm, bệnh viện chấn thương chỉnh hình tiếp nhận hàng ngàn trường hợp chấn thương vùng hàm mặt do tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt...có nhiều trường hợp dẫn đến chấn thương sọ não, gây tử vong cao. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp một số thông tin về chấn thương vùng hàm mặt.

Chấn thương phần mềm 

1.Đặc điểm giải phẫu, sinh lý và bệnh học chấn thương phần mềm vùng hàm mặt 

Vùng hàm mặt có nhiều mạch máu và bạch huyết nên có điều kiện nuôi dưỡng và bảo vệ tốt. Vì vậy, vết thương thường chảy máu nhiều nhưng lại chóng hồi phục.

Vùng hàm mặt có mạch máu nuôi dưỡng phong phú, có hốc miệng, müi, mắt và tai, do đó ít có biến chứng hoại sinh hơi và vì thế vết thương vùng hàm mặt có thể khâu đóng kín thì đầu (trước 6 giờ) ngay cả vết thương đến muộn (sau 6 giờ) nếu làm sạch vết thương thật tốt cüng có thể khâu đóng kín được.

Cơ bám da mặt một đầu bám vào xương, một đầu bám vào da nên vết thương có xu hướng bị toác rộng và mép vết thương bị quắp lại, co kéo làm thay đổi các mốc giải phẫu.

Dây thần kinh mặt chi phối vận động các cơ bám da mặt dễ bị tổn thương trong chấn thương hoặc trong phẫu thuật điều trị.

Vết thương ở mặt khi liền sẹo có thể bị co kéo do làm thay đổi các mốc giải phẫu, ảnh hưởng rất nhiều đến chức năng ăn, nuốt, thở, nói và thẩm mỹ.

Tuyến nước bọt và ống dẫn nếu bị đứt dễ gây dò nước bọt kéo dài và gây khó chịu cho bệnh nhân. 

2. Phân loại vết thương phần mềm  

Vết thương xây xát: chớt da, rướm máu gây đau rát. 

Vết thương đụng dập: không rách da, xuất huyết dưới da gây đổi màu da tạm thời.

Vết thương rách da: tùy độ rộng và độ sâu có thể tổn thương mạch máu, thần kinh hoặc các tổ chức ở sâu.

Vết thương xuyên thủng: thường sâu, liên quan đến các hốc tự nhiên như müi, miệng, xoang hàm...
Vết thương chột (tịt): thường xé toác tổ chức. 

Vết thương bỏng: phân độ như ngoại khoa. 

Vết thương hoả khí và chiến tranh: thường bẩn, nhiều dị vật, đôi khi các mảnh răng và xương trở thành tác nhân phá hoại tổ chức (hoả khí thứ phát). 

4. Nguyên tắc điều trị
 
Điều trị sớm, sơ cứu tốt.

Thăm dò kỹ, phát hiện và lấy hết dị vật. 

Chải rửa thật sạch. 

Cắt lọc thật tiết kiệm tổ chức.

 Khâu kín thì đầu đảm bảo chức năng và thẩm mỹ. 

5. Sơ cứu cần tiến hành ngay ở nơi xảy ra tai nạn: nhằm loại bỏ những nguy cơ đến tính mạng. 

Sơ cứu có ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng bệnh nhân, sự tiến triển của vết thương và kết quả điều trị. 

Nội ung sơ cứu bao gồm: 

Chống ngạt thở: hô hấp nhân tạo, lấy dị vật đường thở, vận chuyển bệnh nhân đúng tư thế: ngồi đầu cúi, nằm nghiêng hay nằm sấp. 

Chống chảy máu: ép vết thương bằng tay, băng ép, khâu cầm máu. 

Chống choáng: sớm bằng thuốc trợ tim, trợ hô hấp, sưởi ấm, truyền huyết thanh..., cầm máu tốt, tránh di chuyển bệnh nhân nhiều lần và phải bất động trước khi chuyển. Chống nhiễm khuẩn: băng kín vết thương, kháng sinh phối hợp. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

< >